Feature news

Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin tức công nghệ. Hiển thị tất cả bài đăng

Hướng dẫn cài đặt Counter Strike 1.6 trên Android, hàng xịn không phải giả lập

Ngày càng có nhiều tựa game "đời Tống" trên máy tính có thể chơi chỉ với một chiếc smartphone.

Counter Strike 1.6 là một trong những phiên bản phổ biến nhất của dòng game này, từng nắm giữ vị trí quan trọng của nền e-sport thế giới trong những năm trước đây, cho tới khi phiên bản Global Offensive ra đời. Ấy vậy mà giờ đây bạn có thể chơi ở bất cứ đâu ngay trên chiếc smartphone Android của mình.
Đúng như thế, đã có thể chơi Counter Strike 1.6 phiên bản đầy đủ trên điện thoại Android, không phải giả lập hay remote từ xa. Đây cũng không phải là game di động "hàng nhái", bởi nó sử dụng chính bộ dữ liệu CS 1.6 trên máy tính.
Để cài đặt, bạn cần tải về bộ dữ liệu cho game đường link sau đây: CS 1.6 Android / File Client cho máy yếu
Bước 1: Bộ cài đặt này bao gồm 2 file .apk và folder data(cstrike và valve) của CS 1.6, bạn copy tất cả vào bộ nhớ của điện thoại

Bước 2: Tạo thư mục "xash" trong bộ nhớ trong (Internal Storage), copy 2 folder cstrike và valve vào thư mục này
Bước 3: Cài đặt lần lượt 2 file .apk kia

Bước 4: Chạy client của CS 1.6 và launch vào game
Bước 5: Thêm bot bằng cách: Chọn nút Setting > Bot Menu > Show > Close. Sau đó nhấn bot Bot Menu trên màn hình > Add Bot


Cảm nhận, game rất mượt khi chạy trên LG G4 sử dụng vi xử lú Qualcomm Snapdragon 808. Tuy vậy, chúng tôi đã thử kết nối chuột và bàn phím qua cáp OTG thì không thể sử dụng các thiết bị ngoại vi này để điều khiển thay cho màn hình cảm ứng.
Một lỗi khác cũng xuất hiện, đó là khi chúng ta thêm quá nhiều bots hoặc chơi multiplayer với người chơi khác (cũng dùng máy Android), game sẽ tự động out.
Có lẽ sẽ cần chờ cập nhật thêm các phiên bản mới cho CS Client trên Android để xử lý tình trang nói trên, dưới đây là một số hình ảnh về game và video hướng dẫn cài đặt kèm chơi thử.
(Nguồn http://genk.vn/)
Đọc tiếp »

Cái tên lạ hoắc này lại chính là trình duyệt có tốc độ nhanh nhất dành cho Android

Cuộc hành trình này sẽ đưa chúng ta qua rất nhiều phép thử thực tế mà trình duyệt phải trải qua.

Trình duyệt điện thoại luôn là một trong những ứng dụng được mở nhiều nhất trong thời đại smartphone hiện nay.
Trên iPhone người ta không có nhiều sự lựa chọn bởi Safari được tích hợp quá sâu và quá mạnh. Nhưng còn trên Android thì sao?

Chính vì là một nền tảng mở nên các trình duyệt được phát triển trên Android có nhiều cơ hội để cạnh tranh hơn, nhất là khi trình duyệt mặc định của Android chỉ giống như Internet Explorer trên máy tính vậy.
Do đó, chúng tôi quyết định mang 10 trình duyệt dành cho điện thoại Android đang khá phổ biến trên thị trường thử qua một vài bài test do chúng tôi đặt ra với mục đích cuối cùng là tìm ra được đâu là trình duyệt phù hợp nhất để dùng hàng ngày trên các Android Phone ngày nay.
Dưới đây là danh sách các phiên bản trình duyệt được mang ra thử nghiệm:
Google Chrome 49.0.2623.105
Dolphin Browser 11.5.5
Mozilla Firefox 45.0.2
Naked Browser version 1.0 build 112
Opera Browser 36.1.2126.102083
Puffin Browser 4.7.4.2567
UC Browser 10.9.0
InfiKen Labs Flynx Browser 2.0.1
Ghostery Browser 1.3.2
Mercury Browser 3.2.3
Thiết bị dùng thử nghiệm
Tất cả các trình duyệt được chạy thử trên một chiếc Nexus 6P dùng hệ điều hành Android 6.0.1 mới nhất.

Chiếc Nexus 6P này sẽ được Reset Factory trước khi tiến hành kiểm thử mỗi trình duyệt khác nhau, chúng tôi cũng không cài thêm bất cứ ứng dụng phụ nào khác để tránh tạo ra file rác và thư mục rác gây ảnh hưởng đến kết quả.
Cũng để tăng độ chính xác cho bài kiểm tra, với mỗi trình duyệt, chúng ta sẽ chạy benchmark 3 lần và lấy giá trị trung bình của 3 lần.
Các bài thử nghiệm
- Khả năng chạy JavaScript và đánh giá hiệu năng chung của trình duyệt.
- Thử tốc độ tải trang
- Kiểm tra mức độ chiếm dụng bộ nhớ RAM.
Trong đó, để kiểm tra về khả năng chạy JavaScript và hiệu năng chung của trình duyệt, chúng ta sẽ cho trình duyệt chạy qua 4 công cụ kiểm thử phổ thông đến từ các hãng khác nhau:
- Sunspider
- Mozilla Kraken
- Browsermark
- Peacekeeper
Test hiệu năng trình duyệt
Những công cụ nói trên sẽ đo đạc tốc độ xử lý của trình duyệt bao gồm tải trang, load Javascript, độ tương thích HTML, v.v... Sau các bài Test chúng ta có thể dễ dàng so sánh giữa các trình duyệt với nhau thông qua tổng điểm trung bình.
Với bài test Sunspider 1.0.2

Đây là bài test được xây dựng chủ yếu để kiểm tra khả năng chạy JavaScript của trình duyệt, nó sẽ đo thời gian xử lý các đoạn JavaScript được định trước với kết quả tính bằng mili giây. Vì vậy điểm số càng thấp tức là trình duyệt xử lý càng nhanh. Và dưới đây là kết quả.

Thấp hơn là tốt hơn.
Thấp hơn là tốt hơn.

Theo kết quả, chúng ta thấy trình duyệt Puffin chiến thắng tuyệt đối với thời gian xử lý chỉ bằng khoảng 1/10 so với các trình duyệt còn lại. Mặc dù Puffin không phải là trình duyệt phổ biến nhất trên Android hiện nay.
Đáng buồn nhất đó là trình duyệt đứng bét bảng lại là Chrome, một trình duyệt được hậu thuẫn bởi Google.
Bài thử Mozilla Kraken 1.1
Sau Sunspider, chúng ta tiếp tục thử nghiệm bằng bài kiểm tra Mozilla Kraken, một bài thử cũng dựa trên tính toán tốc độ xử lý JavaScript nhưng được xây dựng bằng những trường hợp thường xảy ra trong thực tế hơn. Bài kiểm tra này được xây dựng bởi Mozilla nên không biết nó có ưu ái gì cho Firefox không.

Giống như bài Sunspider, bài test này cũng đo ra kết quả là thời gian, nên số càng nhỏ càng tốt. Và đây là kết quả.

Thấp hơn là tốt hơn.
Thấp hơn là tốt hơn.

Puffin vẫn tiếp tục giữ top và bỏ xa vị trí thứ 2 là Firefox, lần này vị trí bét bảng lại thuộc về Dolphin.
Browsermark 2.1.3
Browsermark hướng tới đo kiểm tổng thể hiệu năng của trình duyệt bao gồm những thông số cơ bản(ví dụ: thời gian tải trang, thời gian resize màn hình v.v...), JavaScript, CSS, DOM và hiệu năng đồ họa.

Đây là bài test tính điểm tổng thể, vì vậy điểm số càng cao thì trình duyệt càng mạnh.

Cao hơn là tốt hơn.
Cao hơn là tốt hơn.

Lần này Opera đứng top với 2431 điểm, Chrome về nhì và trình duyệt từng đình đám thời Android 2.2 là Dolphin lại tiếp tục đứng bét bảng.
Bài thử Peacekeeper

Với bài thử Peacekeeper, người ta thường dùng để đo hiệu năng tổng thể giống như Browsermark nhưng nó hướng vào các bài test chi tiết hơn như khả năng kiểm soát các tính năng của JavaScript, kiểm tra khả năng dựng hình, khả năng xử lý HTML5, các loại mảng dữ liệu và tạo khối văn bản.

Cao hơn là tốt hơn.
Cao hơn là tốt hơn.

Một lần nữa, trình duyệt Puffin lại dẫn đầu với điểm số gấp gần 4 lần so với các trình duyệt khác.
Và Dolphin lại tiếp tục đứng bét bảng với điểm số chưa vượt qua nổi 1000.
Và như vậy, sau 4 bài kiểm tra chúng ta đều thấy, trình duyệt được sử dụng nhiều nhất như Chrome không phải là trình duyệt có tốc độ nhanh. Thập chí nó còn đứng bét bảng trên một bài kiểm tra.
Đánh giá mức độ chiếm dụng RAM
Mức độ chiếm dụng bộ nhớ hệ thống cũng là một trong những khía cạnh rất quan trọng khác bên cạnh tốc độ xử lý. Một chiếc điện thoại tầm trung hoặc tầm thấp sẽ trở nên vô cùng ỳ ạch nếu trình duyệt sử dụng quá nhiều RAM. Dưới đây sẽ là các trường hợp mà chúng tôi đánh giá là thường thấy nhất trong sử dụng thực tế.

Trường hợp chưa mở tab nào
Bài test này sẽ đo mức độ chiếm dụng RAM của bản thân trình duyệt bởi lúc này nó chưa phải tải bất cứ trang web nào cả.
Để tăng độ chính xác, chúng ta sẽ xóa toàn bộ cache của trình duyệt rồi khởi động lại máy để đảm bảo không có yếu tố khách quan nào ảnh hưởng đến bài kiểm tra. Chúng tôi sẽ làm lại bước này mỗi khi thử nghiệm một trình duyệt mới.
Với những trình duyệt tự bật lên các cửa sổ Pop-up giới thiệu như Getting Started của Chrome, chúng ta sẽ khởi động lần đầu để trình duyệt ghi nhận lần mở đầu tiên trước rồi tắt tab và đóng hoàn toàn ứng dụng.
Giống như với bài test Java, chúng ta cũng sẽ đo 3 lần và lấy giá trị trung bình.

Thấp hơn là tốt hơn.
Thấp hơn là tốt hơn.

Kết quả là trình duyệt từng bị "ghẻ lạnh ở bài test bên trên lại đứng đầu bảng xếp hạng vì chiếm dụng RAM thấp nhất. Trình duyệt được cho là ngốn RAM nhất như Chrome lại vẫn vẻ vang ở vị trí thứ 3. Opera đứng bét bảng khi chiếm tới 99MB RAM khi chưa mở Tab nào.
Trường hợp mở 5 tab
Với trường hợp mở 5 tab, trình duyệt đã bắt đầu phải tính toán để phân bổ RAM giữa các tab đang xem và các tab đang load. Giống như bài test không mở trang, chúng ta cũng clear toàn bộ data và cache, sau đó mở lần lượt 5 trang web thật. Mỗi tab mới được mở chúng ta sẽ chờ khoảng 7 giây trước khi mở tiếp tab mới để đảm bảo trang được load đầy đủ ở trạng thái active trước.

Thấp hơn là tốt hơn.
Thấp hơn là tốt hơn.

Kết quả khá bất ngờ, trong một tình huống sử dụng thực tế như mở 5 tab, Chrome chiếm thêm 1 lượng RAM không đáng kể, Opera dù đứng bét bảng khi không mở tab nhưng ở bài test này lại đứng thứ 2 sát nút với Chrome.
Trình duyệt đứng đầu ở bài test trước là Dolphin với 45 MB RAM lại chiếm tới 294 MB RAM sau khi mở 5 Tab, hơn gấp đôi Chrome.
Trình duyệt Puffin có tốc độ nhanh nhất trong tất cả các bài Test thì sẽ phải trả giá bằng lượng RAM tiêu tốn khá cao, tới gần 500 MB RAM chỉ với 5 tab.
Bài test này cho thấy những trình duyệt quản lý RAM giữa tab active và tab inactive tốt đều là những trình duyệt nổi tiếng.
Kết Luận
Sau những bài thử nghiệm thực tế nói trên, chúng ta dễ thấy, khái niệm về một trình duyệt nhanh nhất không hề tồn tại một cách tuyệt đối. Bởi nó còn phụ thuộc vào rất nhiều khía cạnh. Nhưng nếu điện thoại của bạn là sản phẩm cao cấp với 4GB RAM thì Puffin thực sự rất ấn tượng.

Hãy cho chúng tôi biết các bạn đang sử dụng trình duyệt gì trên điện thoại của mình qua box comment bên dưới!
(Nguồn http://genk.vn/)
Đọc tiếp »

Pin sạc Anker 120.600 mAh: mang vác được, sạc 15 lần cho máy tính, 40 lần cho điện thoại

Giá bán hiện tại của viên pin Anker PowerHouse trên Amazon rơi vào 499 USD, tương đương khoảng 11 triệu đồng.

Từ lâu, người dùng Việt Nam đã quá quen với các thiết bị pin dự phòng hay sạc đa năng của Anker. Tuy nhiên, đó hầu hết là các thiết bị chỉ dừng lại ở mức vài lần sạc cho smartphone hay máy tính.
Nhằm thỏa mãn những nhu cầu to lớn hơn từ người dùng, vừa đảm bảo tính di động, vừa đảm bảo nguồn pin sạc lớn trong những trường hợp khẩn cấp, mới đây, Anker đã giới thiệu pin PowerHouse.

Về cơ bản, PowerHouse là một viên pin di động, có thể dễ dàng mang vác, nhưng có dung lượng lên tới 120.600 mAh. PowerHouse bao gồm 36 cục pin dung lượng 3.350 mAh.
Được biết, khi mua PowerHouse, người dùng sẽ nhận được 4 cổng USB 2,4 A, đầu ra DC 12 V dành cho xe hơi, cũng như cổng AC cho điện xoay chiều 110 V.
Trên thực tế, Anker cho biết viên pin của họ có thể sạc đầy cho một chiếc điện thoại tới 40 lần, hoặc 15 lần cho một chiếc máy tính. Thậm chí, với các đồ gia dụng trong nhà, pin PowerHouse có thể thắp sáng bóng đèn 15V trong 100 giờ liên tục, hoặc chạy tủ lạnh mini trong hơn 7 giờ,
Liên quan tới thời gian sạc đầy cho pin di dộng PowerHouse, người dùng sẽ cần nạp khoảng 10 giờ nếu cắm trực tiếp vào ổ điện, hoặc trong 16 giờ với bộ sạc năng lượng mặt trời tương thích (khoảng thời gian chỉ là áng chừng).
Đáng tiếc, chúng ta vẫn chưa biết rõ kích thước của thiết bị, nhưng theo tính toán pin di dộng PowerHouse nặng khoảng 4,2 Kg, nghĩa là dễ dàng mang vác đi khắp nơi.
Giá bán hiện tại của viên pin Anker PowerHouse trên Amazon rơi vào 499 USD, tương đương khoảng 11 triệu đồng, chưa bao gồm công vận chuyển và hiện chỉ dành cho thị trường Mỹ. Nếu quan tâm tới sản phẩm.
(Nguồn genk.vn)
Đọc tiếp »

Từ DOS, Windows đến Symbian và Android: Một vòng luẩn quẩn của hệ điều hành

Không phải mà các hệ điều hành từ chỗ nằm dưới quyền kiểm soát của một công ty duy nhất đến chỗ trở thành "của chung" nhưng rồi lại thu về một mối.

MS-DOS: "Quả đắng" của IBM và trái ngọt của tất cả các nhà sản xuất khác

Thành công của Microsoft đến từ một quyết định sau này được coi là sai lầm tai hại nhất trong lịch sử của IBM nói riêng và toàn bộ thế giới doanh nghiệp nói chung: cho phép Bill Gates nắm giữ bản quyền MS-DOS thay vì giữ lại làm của riêng IBM. Những gì diễn ra sau đó đã trở thành một câu chuyện quá quen thuộc với các tín đồ công nghệ: Bill Gates mang nhượng quyền MS-DOS cho cả các nhà sản xuất phần cứng ngoài IBM, mở đường cho cuộc cách mạng PC diễn ra rộng khắp. Dù vẫn nắm thế mạnh về thương hiệu và công nghệ trong thời gian đầu, IBM nhanh chóng tụt hậu trong các cuộc chiến sau đó trước khi bị các đối thủ Trung Quốc và Đài Loan "kết liễu" bằng các sản phẩm laptop, desktop giá rẻ.
Về phần mình, Microsoft tận dụng thành công của MS-DOS để làm nền tảng cho Windows (các bản Windows đầu tiên thực chất là một bộ giao diện chạy trên nền DOS) rồi vươn lên vị trí thống trị thế giới điện toán. Cho đến tận khi IBM phải từ bỏ mảng sản xuất, kinh doanh PC vào năm 2005, Microsoft vẫn là tập đoàn hi-tech đứng đầu thế giới về giá trị vốn hóa.
Với quyết định đúng đắn duy nhất là nắm giữ một hệ điều hành có thể chạy trên nhiều phần cứng, Microsoft đã khiến cho cả thế giới phụ thuộc vào mình. Ngày nay, dù đã tụt hậu trong cuộc đua di động, Microsoft thực chất vẫn trói buộc gần như toàn bộ ngành PC toàn cầu vào hệ điều hành của hãng – một vị thế mà ngay đến cả Apple lẫn Google đều chắc chắn sẽ không thể lật đổ.
Symbian nhiều chủ: Sống và chết vì nhiều chủ
Nokia 9210, mẫu smartphone Symbian đầu tiên của Nokia.
Nokia 9210, mẫu smartphone Symbian đầu tiên của Nokia.

Thị trường điện thoại di động cũng chứng kiến một sự thay đổi khổng lồ vào cuối thập niên 1990 và đầu thập niên 2000, khi cuộc cách mạng smartphone đầu tiên bắt đầu diễn ra. Lúc này, nhu cầu bắt buộc của ngành sản xuất di động là phải có một hệ điều hành có giao diện đồ họa đẹp cùng khả năng chạy các ứng dụng phức tạp. Symbian ra đời.
Dù cho sự sống và cái chết của hệ điều hành này gắn liền với Nokia, Symbian OS ban đầu được xây dựng bởi bộ phận phần mềm của Psion, một nhà sản xuất thiết bị di động tại Anh. Bộ phận này sau đó được tách rời ra làm một công ty riêng (Symbian Ltd.) với các chủ sở hữu bao gồm Nokia, Psion, Ericsson, Motorola và cả nhà mạng Nhật Bản NTT Docomo. Cũng giống như DOS, thành công của Symbian đến từ khả năng chạy trên nhiều loại phần cứng. Sự ủng hộ từ các tên tuổi lớn cho phép Symbian nhanh chóng vượt mặt các đối thủ lớn như BlackBerry OS, Palm OS hay Windows Mobile. Vào năm 2006, hệ điều hành này chiếm đến một nửa thị trường smartphone, cao gấp 3,5 lần so với mức 14% của Windows Mobile ở vị trí thứ 2.
Nhưng đáng tiếc là ngay cả trong thời kỳ hoàng kim, Symbian vẫn mắc phải một điểm yếu đã đánh gục cả BlackBerry 10 lẫn Windows Phone của ngày nay: ứng dụng. Không muốn lặp lại sai lầm của IBM, các nhà sản xuất di động đã nhanh chóng tìm cách tự chế tạo ra các phiên bản Symbian của riêng mình, khác hẳn so với các đối thủ: Nokia, Samsung và LG có S60, Sony Ericsson và Motorola có UIQ còn một liên hiệp Nhật Bản dưới sự bảo trợ của NTT Docomo ra mắt MOAP(S). Xét từ nhiều khía cạnh, Symbian của ngày trước khá giống với Android của ngày nay: cũng là một hệ điều hành được nhiều nhà sản xuất sử dụng và cũng có nhiều phiên bản. Nhưng, trong khi các bản Android chủ yếu chỉ khác biệt về giao diện và bộ ứng dụng được các nhà sản xuất/nhà mạng cài đặt sẵn thì Symbian phân mảnh trầm trọng hơn rất nhiều: nếu bạn muốn phát triển cùng một ứng dụng cho cả S60 và UIQ, công sức mà bạn bỏ ra sẽ tương đương với việc phát triển 2 ứng dụng độc lập.
Cùng chạy một hệ điều hành Symbian nhưng khả năng tương thích giữa smartphone của Sony Ericsson và Nokia gần như bằng 0.
Cùng chạy một hệ điều hành Symbian nhưng khả năng tương thích giữa smartphone của Sony Ericsson và Nokia gần như bằng 0.

Chính điều này đã cho phép Apple giáng một đòn chí tử vào Symbian khi ra mắt chợ ứng dụng App Store từ thế hệ iPhone OS thứ hai. Khi iPhone ra đời vào năm 2007, Symbian đã có tổng cộng 10.000 ứng dụng, nhưng hệ điều hành này phải mất tới 7 năm để đạt tới cột mốc đó. Apple chỉ mất đúng 1 năm để thu hút được số ứng dụng tương tự nhờ có mô hình chợ ứng dụng hoạt động hiệu quả cũng như các bộ công cụ hỗ trợ tốt cho các nhà phát triển.
Nigel Clifford, người đã lãnh đạo Symbian trong những năm sống "ngắc ngoải" của hệ điều hành này khẳng định một điều sẽ khiến nhiều người giật mình: "Chúng tôi đã cố gắng kiểm soát 2 vấn đề không có giao diện đồng nhất trong hệ điều hành và cộng đồng ứng dụng/hệ sinh thái bị phân mảnh khá trầm trọng, nhưng các nhà sản xuất đã canh giữ 2 yếu tố này một cách thái quá, vì họ coi đây là những yếu tố khác biệt cho thiết bị của họ, công ty của họ. Do đó, họ thà giữ các tính năng cho riêng mình còn hơn là cho phép chúng tôi phát triển chúng để tạo ra một trải nghiệm người dùng đồng nhất tuyệt vời như những gì bạn nhận được từ Apple, nhờ đó giúp cho thiết bị của họ có thêm sức cạnh tranh từ những mối đe dọa thực sự to lớn từ Android, Apple và RIM".
Android: Vẫn phân mảnh, nhưng ở mức độ hợp lý
Phân mảnh đã giết chết Symbian, nhưng lại không thể ngăn cản một hệ điều hành khác vươn lên vị trí số 1 thế giới: Android. Khác với Symbian bị Apple đẩy vào lụi bại, Android đã luôn áp đảo ở mức thị phần cao gấp 5, 6 lần iOS trong những năm qua.
HTC Dream/G1, chiếc smartphone Android đầu tiên bán ra thị trường.
HTC Dream/G1, chiếc smartphone Android đầu tiên bán ra thị trường.

Cùng là một hệ điều hành do một công ty phát triển độc lập cho nhiều nhà sản xuất sử dụng, điều gì làm nên thành công của Android? Câu trả lời có lẽ là bởi vị thế của Google khác hẳn so với Symbian Ltd. Google là một trong những công ty hàng đầu thế giới và hiện nay là gần như không thể thay thế được, bởi chắc chắn phần đông người dùng không chấp nhận dùng Microsoft Bing, Yahoo hay Baidu thế chỗ cho Google. Ngược lại, Symbian phải chịu sự trói buộc của tất cả các nhà sản xuất phần cứng, và thậm chí các nhà sản xuất này còn nắm giữ một phần đủ nhiều để khiến cho các phiên bản Symbian khác nhau không thể tương thích với nhau.
Chưa kể, nguồn thu chính của Google vẫn đến từ các dịch vụ dữ liệu chứ không phải là doanh số smartphone. Android thực chất chỉ là cánh cổng mang người tiêu dùng đến với các dịch vụ kiếm tiền này, và bởi vậy Google sẵn sàng mở mã nguồn ra cho tất cả mọi người, nhưng cùng lúc vẫn kiểm soát toàn bộ quá trình phát triển những thành phần cốt lõi của Android. "Mã nguồn mở" ở đây chỉ là một vỏ bọc hoàn hảo cho tình trạng độc quyền, bởi quá trình phát triển những phiên bản Android riêng, độc lập với Google dù là có thể về mặt lý thuyết nhưng chắc chắn sẽ tiêu tốn hàng tỷ USD khi đi vào thực tế.
Thêm nữa, những hệ điều hành như vậy gần như chắc chắn sẽ thất bại. Trong vài năm gần đây, Facebook, Samsung và nhiều ông lớn khác đều đã bại trận khi tìm cách biến Android trở thành của mình là hoàn toàn rõ ràng: dự án Facebook Home "chìm nghỉm" chỉ trong vòng 1 tháng sau khi phát hành, còn các chợ ứng dụng lẫn các dịch vụ cạnh tranh với Google của Samsung thì không những không có ai sử dụng mà còn bị chê là… phần mềm rác. Người ta vẫn thường chê bai Android là hệ điều hành phân mảnh trầm trọng so với iOS, nhưng ít nhất sự phân mảnh đó chỉ dừng lại ở mức độ cập nhật với nhiều phiên bản Android cũ và mới cùng tồn tại trên thị trường. Android đã tránh được điểm yếu chết người của Symbian (không tương thích ứng dụng giữa các phiên bản), cùng lúc giúp Google "trói" được các nhà sản xuất phần cứng.
Vòng tròn luẩn quẩn của hệ điều hành

Kể từ thời kỳ của MS-DOS, các hệ điều hành phổ biến nhất thế giới thực chất đã đi một vòng tròn: từ chỗ thuộc về một chủ duy nhất (MS-DOS, Windows) đến tình cảnh "một cổ nhiều tròng" (Symbian) và giờ đây lại chỉ thuộc về một công ty duy nhất (Android). Vị thế thống trị, không thể bị thay thế của Windows và Android cùng với tuổi đời ngắn ngủi của Symbian đã cho thấy một sự thật duy nhất: dù có bao nhiêu nhà sản xuất đi chăng nữa thì mỗi thị trường mới chỉ nên được áp đảo bởi một hệ điều hành duy nhất, do một nhà phát triển độc lập nắm quyền kiểm soát.
Thực tế là nếu như không có MS-DOS thì không chỉ chiếc IBM PC mà là toàn bộ thị trường PC sẽ không bao giờ có thể khởi sắc được. Symbian đạt được thành công tương đối chỉ vì "bám càng" được vị thế phần cứng của Nokia, nhưng ngay cả thành công đó vẫn quá nhỏ bé so với con số 1,5 tỷ thiết bị của Android ngày nay.
Vì sao lại như vậy? Đầu tiên, các nhà sản xuất hoàn toàn có thể tùy biến rất sâu hệ điều hành trên phần cứng của họ, nhưng làm như vậy cũng sẽ buộc họ giảm bớt nguồn lực đầu tư vào phần cứng cũng như các tính năng phần mềm đòi hỏi phần cứng chuyên biệt. Việc nhiều công ty phần cứng cùng đầu tư phát triển song song các hệ điều hành khác nhau cũng sẽ không thể đem lại sản phẩm chất lượng cao như một ông lớn duy nhất.
Tệ hại hơn, việc nhiều hệ điều hành cùng chiếm thị phần đáng kể hay nhiều nhà sản xuất cùng làm chủ một hệ điều hành đang bành trướng sẽ gây ra tình trạng phân mảnh. Việc phát triển các ứng dụng hay game cho nhiều hệ điều hành cùng lúc bao giờ cũng sẽ gây ra những hậu quả tài chính rất lớn các nhà phát triển, đặc biệt là các nhà phát triển nhỏ lẻ. Không một ai muốn đầu tư vào một nền tảng khi số phận của nền tảng đó không rõ ràng, và giữa việc lựa chọn phát triển cho 4, 5 hệ điều hành có thị phần vào khoảng 20% với việc phát triển cho 2 hệ điều hành duy nhất, không một nhà phát triển nào sẽ lựa chọn phương án đầu tiên. Ứng dụng là linh hồn của bất cứ hệ điều hành nào, và nếu như không thể tạo dựng lòng tin cho giới lập trình, các hệ điều hành chắc chắn sẽ nắm phần thua cho dù có được đỡ đầu bởi các ông lớn như Microsoft hay Nokia đi chăng nữa.

Dĩ nhiên là các thị trường thường không chỉ có một hệ điều hành độc tôn. PC có cả Mac lẫn Windows, còn smartphone đang có cả iOS lẫn Android. Tuy vậy, để tạo dựng được một hệ điều hành nắm phần nhỏ mà vẫn sinh lời, vẫn thu hút được các nhà phát triển như Apple là không hề dễ dàng: hãy nhớ rằng đây là công ty đã rất nhiều lần tiên phong cho các dòng sản phẩm đột phá hoàn toàn mới cũng như đã xây dựng được một hình ảnh "hoàn hảo" trong mắt người tiêu dùng. Trong tất cả các thương hiệu điện toán, chưa một công ty nào khác đạt được vị thế như Apple.
Bởi vậy mà thế giới sẽ luôn (cần) có một ông lớn đứng ra kiểm soát một hệ điều hành độc tôn cho cả thị trường. Đôi khi, tình trạng độc quyền (dù không phải là hoàn toàn) sẽ mang lại lợi ích nhiều hơn là thị trường bị san sẻ quá nhỏ. Thế giới đang đứng trước nhiều cuộc cách mạng như xe thông minh, nhà thông minh, Internet of Things…, và để những cuộc cách mạng này có thể đạt tới tầm cỡ của PC và smartphone, hãy cùng hy vọng Google, Microsoft hay một ông lớn nào đó sẽ tạo ra được một hệ điều hành áp đảo tất cả những đối thủ cạnh tranh khác.
(Nguồn Genk.vn)
Đọc tiếp »